Các Chiến Lược Đầu Tư Cổ Phiếu
1.Chiến lưọc đầu tư cổ phiếu giá trị
Chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị là chiến lược đầu tư trong đó nhà đầu tư sẽ tìm kiếm và đầu tư vào các cổ phiếu có giá thị trường thấp hơn giá tộ đích thực của nó.
Có những công ty do những lý do nhất định nào đó giá cổ phiếu của công ty trên thị trường bị định giá thấp hơn giá trị thực có của công ty, như do chu kỳ của ngành, sự biến động hoặc suy giảm của thị trường, tác động của các tin đồn, các đối thủ mạnh nổi lên làm công ty bị lấn át tạm thời, sản phẩm tạm thời bị thất bại... Các cổ phiếu được định giá thấp hơn giá trị thực sẽ vẫn bị định giá thấp nếu không có động lực để giải toả giá trị của nó. Do đó, sau khi tìm được các cổ phiếu giá trị, nhà đầu tư sẽ đầu tư vào các cổ phiếu này và tìm “chất xúc tác” để giải toả giá trị của công ty, đưa giá cổ phiếu về đúng giá trị thực của nó. “Chất xúc tác” trở thành yếu tố vô cùng quan trọng để giải toả giá trị công ty, đưa giá trị công ty về đúng giá trị thực của nó, khi đỏ nhà đầu tư sẽ kiếm được một món lợi lớn. Thời gian để cổ phiếu giá trị tăng giá lên đúng giá trị của nó có thể khá lâu, thậm chí là nhiều năm, do đó, tuy đầu tư cổ phiếu giả trị không đòi hỏi nhà đầu tư phải giao dịch thường xuyên để bám sát tăng giảm giá cổ phiếu hàng ngày nhưng nó đòi hỏi sự kiên trì và tính kỷ luật của nhà đầu tư. Đây là chiến lược ít rủi ro nhất cho nhà đầu tư.
Cách làm của nhà đầu tư chiến lược như sau:
- Tim kiếm CP phiếu giá trị: bên cạnh nghiên cứu truyền thống ỉà xác định giá trị thực hiện tại của công ty qua phân tích các báo cáo tài chính của công ty, phân tích tỉnh hình doanh thu, lợi tức, lãi gộp, giá trị sổ sách, mức tăng trưởng doanh thu, mức tăng trưởng lợi tức trong quá khứ và dự tính trong tương lai... thì việc nghiên cứu hệ số P/E là một việc làm không thể thiếu. Thông thường các nhà dầu tư giá trị là những người ưa thích đầu tư vảo các chứng khoản có chỉ số P/E thấp nhưng có mức tăng trường EPS và cổ tức khá cao.
Ngoài ra, một số chỉ tiêu khác cũng giúp đánh giá giá trị của công ty, bao gồm:
* Chu kỳ sống cùa công ty: bao gồm ba giai đoạn chủ yểu:
-Giai đoạn phấn đấu và trở lực: Đây là giai đoạn công ty mới đi vào hoạt động, cần tập trung các nguồn lực để gây dựng uy tín trên thị trường. Giai đoạn này thường nhu cầu vốn thì rất lớn trong khi nguồn lực có hạn nên mức sinh lời, cổ tức không cao, song nếu vượt qua giai đoạn này công ty sẽ đạt bước phát triển mạnh và giá cổ phiếu sẽ tăng mạnh.
Giai đoạn tăng trưởng và thịnh vượng: Giai đoạn này công ty đã có những mối quan hệ khá chặt chẽ với khách hàng, đã bước đầu gây dựng được uy tín và đang trong giai đoạn phát triển rất mạnh cả về quy mô hoạt động, doanh thu, lợi nhuận... đây là điều kiện tốt để giá chứng khoán tăng mạnh và là cơ hội tốt cho các nhà đầu tư. Tuy nhiên, rủi ro đầu tư chứng khoán cũng khá lớn do đây là giai đoạn phát triển nhanh nhưng chưa vững chắc.
Giai đoạn trưởng thành: ở giai đoạn trưởng thành, công ty đã có vị trí vững chắc trong ngành, tốc độ phát triển có thể không cao như giai đoạn tăng trưởng và thịnh vượng nhưng ổn đinh và khá chắc chắn.
Mỗi giai đoạn của chu kỳ sống hoạt động kinh doanh của công ty cũng như có khả năng sinh lời khác nhau. Sau khi có đường cong chu kỳ sống của công ty nhà đầu tư cần xác định hiện tại công ty đang ở giai đoạn nào của chu kỳ sống để đánh giá và dự đoán khả năng sinh lời cũng như thu nhập nhà đầu tư có thể có được ở hiện tại và tương lai, từ đó có quyết định lựa chọn loại cổ phiếu thích hợp.
*Khối lượng tiền mặt khả dụng = Giá trị TSNH - Nợ ngắn hạn
Một công ty có khối lượng tiền mặt ỉớn là công ty hấp dẫn vì công ty có thể dễ dàng mua đứt các công ty khác, mua lại cổ phiếu đang lưu hành, mở rộng kinh doanh, dễ dàng nắm bắt các cơ hội đầu tư...
* Mửc vôn hoá: là giá trị công ty tại thời điểm đánh giá.
Mức vốn hoá =số lượng CP đang lưu hành*giá trị thị trường của CP
Thông qua việc tìm giá trị thực của công ty và xác định mức vốn hoá, nhà đầu tư sẽ biết công ty được thị trường định giá có đúng vói giá trị thực hay không. Trong trường bựp mức vốn hoá thấp hơn giá trị thực có nghĩa là công ty đang được định giá thấp hơn giá trị thực, nhà đầu tư có thể mạnh dạn đầu tư để kiếm lời.
- Chọn thời điểm mua vào và thời điểm bán ra CP giá trị: Thời điểm mua vào là khi cổ phiếu đã lựa chọn kết thúc chu kỳ giảm giá, hay nói cách khác là xu hướng giảm giá đã kết thúc và giá cổ phiếu đang có dấu hiệu đi lên. Khi cổ phiếu đang nắm giữ không còn các tiêu chuẩn của một cổ phiếu giá trị nữa, hệ số P/E của cổ phiếu đã tăng và tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng lợi nhuận và doanh thu, là lúc nhà đầu tư nên bản cổ phiếu đó. Các nhà đầu tư theo chiến lược này thường là những người có tâm lý vững vàng, không bị giao động vì các trào lưu trên thị trường.
2.Chiến lược đầu tư cổ phiếu tăng trựởng
Công ty tăng trưởng là công ty có mức sinh lời cao hơn mức sinh lời kỳ vọng của nhà đầu tư khi đầu tư vào công ty đó. Nhưng cổ phiếu tăng trưởng không nhất thiết là cổ phiếu của công ty tăng trưởng, cổ phiếu tăng trưởng là cổ phiếu cho phép nhà đầu tư đạt được tỷ suất đầu tư cao hơn các cổ phiếu khác trên thị trường có mức rủi ro tương đương, cổ phiếu này cho phép nhà đầu tư đạt được tỷ suất đầu tư cao hơn các loại khác do thị trường không hoàn hảo làm giá trị hiện tại của cổ phiếu đang bị định giá thấp hơn giá trị thực. Nói cách khác, trong giai đoạn giá thị trường chưa được điều chỉnh về đúng giá trị thực thì cổ phiếu đó được gọi là cổ phiếu tăng trưởng. Tuy nhiên, trong thực tế, thường các công ty đang tăng trưởng cao thì cổ phiềư của công ty đó cũng là cổ phiếu tăng trưởng, trừ khi nó được các nhà đầu tư quá kỳ vọng vào sự tăng trưởng săn lùng cổ phiếu và đẩy giá lên quá cao so với giá trị thật.
Điểm khác nhau cơ bản của hai chiến lược này là do nhận định khác nhau của nhà đầu tư về cách mà giá thị trường của cổ phiếu sẽ tiến đến giá trị thực của nó. Đối với chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị nhà đầu tư quan tâm đến EPS và mức tăng trưởng EPS trong tựơng lai của công ty với giả định rằng P/E ít thay đổi, cho rằng giá cổ phỉếu tăng lên khi thông tin về mức tăng trưởng EPS được thị trường nhận biết. Còn nhà đầu tư theo đuổi chiến lược đầu tư cổ phiếu tăng trưởng không quan tâm đến EPS và mức tăng trưởng EPS trong tương lai, chỉ quan tâm đển yểu tố giá thị trường của cổ phiếu và tìm ra các bằng chứng để chứng minh giá thị trường của cổ phiếu đang thấp hơn giá trị thực của nó.
Chiến lược đầu tư thụ động là chiến lược mua và nắm giữ chứng khoán một cách lâu dài theo một chỉ số chuẩn nào đỏ. Nói cách khác, sau khi lựa chọn một chỉ số trên thị trường làm chỉ số chuẩn, nhà đầu tư sẽ đa dạng hoá đầu tư theo chỉ số chuẩn đó mà không cần quan tâm đến các biến động trên thị trường và hy vọng sẽ đạt được mức sinh lời ngang bằng với mức chỉ sổ chuẩn mà mình đã lựa chọn. Một số chỉ sổ trái phiếu trên thị trường tài chính quốc tể như: các chỉ số trái phiếu trên thị trường tổng thể: Lehman Brother Aggregate Index, Merrill Lynch Domestic Market Index, hoặc các chỉ số trái phiếu trên thị trường chuyên ngành: Gov./ Coporate Bond Index, Yankee Bond Index, Eurodollar Bond Index... Một sổ chỉ sổ cố phiếu nổi tiếng trên thị trường Mỹ như: s&p 500, 400 và 200, Ruseìl 2000...
Có hai cách chính đề lập danh mục chứng khoán theo chiên lược đâu tư thụ động:
Cách thứ nhất, thiết lập một danh mục giống hoàn toàn cả về chủng loại, tỷ trọng của từng loại với chỉ sô chuẩn đã lựa chọn. Đầu tư theo cách nầy tạo ra danh mục giống hệt chỉ số chuân vả nhà đầu tư hy vọng sẽ đạt được mức sinh ỉời ngang bằng chỉ số chuẩn, song cách làm này cần một lượng vốn rất lớn để có thể mua tất cả các loại chứng khoán có trong chỉ số chuẩn, mặt khác có thể làm tăng chi phí giao dịch nếu phải trả chi phí theo món.
Cách thứ hai mà nhiều nhà đầu tư lựa chọn là ỉựa chọn một sổ lượng nhất định các chứng khoán đại diện trong chỉ số chuẩn để trong số vốn hạn chế vẫn đảm bảm có thể thực hiện theo danh mục chuẩn. Nhược điểm của cách thức này là mức đa dạng hoá không cao vả do không giống hoàn toàn với chỉ số chuẩn nên có thể cho ra kết quả không như kết quả của chỉ sô chuân. Hiệu quả của danh mục đạt được phụ thuộc vào khả năng giảm thiểu những sai lệch so với chỉ số chuẩn.
Chiến lược đầu tư thụ động có thể áp dụng cho cả đầu tư trái phiếu và đầu tư cổ phiếu với các điểm chung như trên song do mỗi loại lại có đặc điểm riêng biệt, mức độ rủi ro khác nhau nên chiến lược đầu tư cũng có sự khác nhau.
Các nhà đầu tư theo đuổi chiến lược này thường cho rằng thị trường hoạt động có hiệu quả, giá chứng khoán trên thị trường phản ánh toàn diện các thông tin trên thị trường, nên việc theo đuổi một chỉ số trên thị trường giúp giảm chi phí giao dịch và nhà đầu tư không càn quan tâm đến biến động của từng cổ phiếu riêng lẻ mà chỉ cần quan tâm đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế để phán đoán xu hướng của thị trường chứng khoán.
4.Chiến lược đầu tư chủ động: là phương pháp mà nhà đầu tư dựa vào kiến thức, kinh nghiệm, sự nhanh nhạy, tài tiên đoán và thủ thuật đầu tư của mình để xây dựng danh mục đẩu tư đạt mức sinh lời cao hơn mức sinh lời chung của thị trường. Các nhà đầu tu theo trường phái này cho rang thị trường không hoàn hảo, và họ sẽ tìm ra các kẽ hờ của thị trường để vượt lên trên và kiếm được ỉợi nhuận cao hơn thị trường. Như vậy, danh mục đầu tư dược thiết lập bởi mỗi nhà đầu tư khác nhau ỉà khác nhau cả về chủng loạị, tỷ trọng của từng loại chứng khoán được lựa chọn, mức rủi ro, mức sinh lời...Trong đầu tư trái phiếu, nhà đầu tư quan tâm 3 yểu tố chủ yếu là sự thay đỗi của lãi suất, đường cong lãi suất vả sự chênh lệch lãi suất giữa các loại trái phiếu để có thể thay đổi trái phiếu trong danh mục đầu tư nhằm đạt được mức lợi nhuận cao nhất.
Với chiến lược đầu tư cổ phiếu chủ động, nhà đầu tư sẽ đưa ra mục tiêu đầu tư dựa trên các chỉ tiêu như hệ số giá trên thu nhập (P/E)í hệ số thu nhập trên vốn cổ đông (ROA), mức độ biển động của cổ tức, hệ số PE/G (P/E chia cho tốc độ tăng trưởng)... để lựa chọn loại cổ phiếu thoả mãn các chỉ tiêu đó. Các CP được tìm mua là các CP được định giá thấp, đang tạm thời khong được ưa chuộng CP của các công ty nhỏ, CP của những ngành về dài hạn là khả quan.
Nguyễn Thị Minh Hà