star twitter facebook envelope linkedin youtube alert-red alert home left-quote chevron hamburger minus plus search triangle x

Các nguồn tài trợ ngắn hạn trong Doanh nghiệp


Các nguồn tài trợ ngắn hạn trong Doanh nghiệp

1.Các tài sản ngắn hạn trong Doanh nghiệp:

a.Tiền mặt: Tiền mặt được xem là tài sản không sinh lợi, vì vậy mục tiêu của quản trị tiền mặt là tối thiểu hóa lượng tiền mặt nắm giữ, nhưng vẫn đảm bảo sự cân đối thu – chi của doanh nghiệp.

Chu kỳ vận động tiền mặt: Là khoảng thời gian từ khi công ty thanh toán các khoản phải trả cho đến khi nhận được các khoản phải thu, thời gian này càng ngắn càng hiệu quả.

b. Khoản phải thu.

Khoản phải thu làm phát sinh chi phí trực tiếp và gián tiếp, nhưng cũng làm tăng doanh thu, và nếu lợi nhuận biên không đổi thì khi doanh thu tăng cũng đồng nghĩa lợi nhuận tăng lên, việc giám sát hoạt động tín dụng thương  mại là rất quan trọng, vì không có nó các khoản phải thu khi vượt mức sẽ làm dòng tiền giảm xuống, nợ xấu ảnh hưởng đên lợi nhuận trên doanh thu.

Công tác quản trị khoản phải thu là quá trình tác động đến tài sản khoản phải thu, qua đó gia tăng hiệu quả sử dụng vốn nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng. Công tác quản trị khoản phải thu được thực hiện thông qua các quyết định về chính sách bán tín dụng và các quyết định thu nợ.

Chính sách bán tín dụng

            Chính sách bán tín dụng là nhân tố cơ bản tác động đến độ lớn của các khoản phải thu. Nó được xây dựng dựa trên quá trình cân nhắc giữa rủi ro và tính sinh lợi khi thực hiện chính sách bán tín dụng. Tuỳ theo tình huống tăng trưởng và hiện trạng tài chính, hiện trạng khoản phải thu của doanh nghiệp để xây dựng hoặc hoàn thiện chính sách tín dụng.

Khi đưa ra quyết định xây dựng chính sách bán tín dụng theo hướng thả lỏng hay mở rộng chính sách tín dụng chúng ta cần cân nhắc 2 khía cạnh sau:

        • Thuận lợi:

- Doanh số bán hàng tăng lên, giảm lượng hàng tồn kho không cần thiết.

- Duy trì mối quan hệ với khách hàng hiện tại và tăng thêm khách hàng mới.

- Tạo danh tiếng, làm cho khách hàng mua thường xuyên và trung thành hơn.

- Thâm nhập thị trường nhanh và tăng lợi thế trong cạnh tranh.

- Tạo cơ sở để gia tăng lợi nhuận.

        • Khó khăn:

- Tăng vốn đầu tư vào khoản phải thu, từ đó gia tăng chi phí vốn.

- Một số khách hàng thanh toán trễ hoặc mất mát, không đòi được nợ.

- Phát sinh thêm các chi phí hành chính, chi phí thu nợ và các chi phí khác có liên quan đến quá trình bán tín dụng.

Chính sách thu nợ.

Chính sách thu nợ có mục đích là sử dụng các nguồn lực của công ty để thực hiện việc thu tiền đối với các hoá đơn quá hạn.

Trước khi khởi sự các thủ tục thu nợ cần cân nhắc 2 nội dung sau:

  • Khoản nợ quá hạn có giá trị bao nhiêu?
  • Thời gian quá hạn bao lâu?

Thủ tục thu nợ thường bao gồm một trình tự hợp lý cho các giải pháp mà nó áp dụng một cách tổng hợp như: điện thoại nhắc nhở, gửi thư yêu cầu trả nợ, viếng thăm cá nhân, khởi kiện đòi nợ...

c.Hàng tồn kho.

Quản trị tồn kho là quá trình tác động vào tài sản hàng tồn kho của doanh nghiệp. Nếu quản trị tồn kho không tốt có thể làm tăng tài sản tồn kho không có chủ đích từ đó làm gia tăng chi phí vốn đầu tư vào tài sản tồn kho. Ngược lại, nếu chúng ta cố gắng giảm giá trị tài sản hàng tồn kho mà không quan tâm đến kế hoạch sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thì sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín hoặc gia tăng chi phí do ngưng trệ sản xuất, mất cơ hội gia tăng thêm lợi nhuận…

Giá trị tài sản hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm, công cụ dụng cụ.

2.Các nguồn tài trợ ngắn hạn trong DN

Căn cứ vào quyết định đầu tư tài sản ngắn hạn, nhu cầu vốn ngắn hạn (cân nhắc dựa trên nhu cầu vốn lưu động tăng thêm và chính sách tài trợ ngắn hạn) của doanh nghiệp, chúng ta sẽ cân nhắc lựa chọn các biện pháp tài trợ ngắn hạn để huy động đủ về số lượng và tương ứng thời gian sử dụng vốn ngắn hạn cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ.

Mỗi biện pháp tài trợ sẽ có chi phí tương ứng, chính vì vậy các doamh nghiệp cần cân nhắc, tính toán chi phí của từng biện pháp tài trợ có thể tiếp cận được và lựa chọn biện pháp tài trợ có chi phí thấp nhất.

a. Tín dụng thương mại:

Tín dụng thương mại là hình thức tài trợ dựa vào chính sách bán tín dụng của nhà cung cấp. Chẳng hạn, nhà cung cấp bán hàng cho doanh nghiệp với chính sách bán tín dụng là 3/10 net 40 thì doanh nghiệp có thể được nhà cung cấp cho nợ toàn bộ số tiền mua hàng trong 40 ngày, còn nếu trả sớm trong 10 ngày đầu tiên sẽ được hưởng chiết khấu 3%. Vậy khi công ty cần vốn ngắn hạn để tài trợ thì có thể không trả sớm cho nhà cung cấp, giữ lại toàn bộ tiền hàng để sử dụng trong 40 ngày, nhưng nếu tài trợ bằng biện pháp này, doanh nghiệp sẽ mất đi cơ hội được hưởng chiết khấu của nhà cung cấp.

b. Phát hành thương phiếu:

Thương phiếu là một phiếu hứa trả ngắn hạn với thời hạn và tỷ suất chiết khấu cố định, được doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn ngắn hạn.

Tỷ suất chiết khấu của thương phiếu thường cao hơn lãi suất trái phiếu kho bạc và thấp hơn lãi suất vay ngân hàng. Thường được trả tại thời điểm người mua mua thương phiếu.

Cá nhân/ tổ chức sở hữu thương phiếu của doanh nghiệp nào sẽ trở thành chủ nợ của doanh nghiệp đó.

c. Vay ngắn hạn ngân hàng:

Vay ngắn hạn ngân hàng có 2 hình thức cơ bản là vay có thế chấp và vay không có thế chấp. Trong đó vay không có thể chấp thường là vay theo hạn mức tín dụng, thư tín dụng… Còn vay ngắn hạn có thế chấp thì doanh nghiệp có thể sử dụng các loại tài sản ngắn hạn như tồn kho, khoản phải thu, tài sản tài chính… để thế chấp khi vay nợ ngắn hạn ngân hàng./.

Nguyễn Thị Minh Hà