star twitter facebook envelope linkedin youtube alert-red alert home left-quote chevron hamburger minus plus search triangle x

Một số lý thuyết hành vi tài chính


Những nguyên lý cơ bản của lý thuyết tài chính hành vi và một số lý thuyết tài chính hành vi

1.Những nguyên lý cơ bản của lý thuyết tài chính hành vi

a.Tồn tại hành vi bất hợp lý:

Nhà đầu tư có thể hành động một cách bất hợp lý vì những nguyên nhân sau. Thứ nhất, họ đã không phân tích và xử lý đúng những 'thông tin từ thị trường, do vậy đẫ đánh gié. sai về mức sinh lời kỳ vọng cũng như mức rủi ro của cố phiếu. Kết quả họ đã đưa ra quyết định không hợp lý. Thứ hai, nhà đầu tư đã có những nhận thức sai lầm do họ dựa trên kinh nghiệm trước đó để phán đoán thị trường và đưa ra quyết định đầu tư. Trên thị trường chứng khoán những Ịệch lạc trong nhận thức này được biểu hiện dưới các hình thức sau:

  • Phụ thuộc vào kinh nghiệm hay các quy tắc sẵn có

Kinh nghiệm hay những quy tắc mà nhà đầu tư học được từ bản thân sách vở hoặc ở trường thường được vận dụng tối ưu. Tuy nhiên, phụ thuộc quá nhiều vào những quy tắc này có thể dẫn đến sai lầm khi các điều kiện xung quanh thay đổi.

  • Lệch lạc do chỉ quan tâm đến một tình huống điển hình

Nếu cho rằng điều kiện hiện nay của nền kinh tế Việt Nam “tương đồng” với giai đoạn này trong năm 2035 nhiều hơn là giống năm 2001, thì đương nhiên sẽ cho rằng xác suất giá cổ phiếu tăng là cao hơn xác suất giá cổ phiếu giảm.

Nhưng nếu nhìn vào một giai đoạn như 2000–2010, mọi người sẽ thấy thị trường lúc lên lúc xuống, không phải lúc nào cũng tăng liên tục, thì sẽ có đánh giá khác về xác suất tăng – giảm.

*Quá bảo thủ

Xu hướng quá bảo thủ ở một số nhà đầu tư thể hiện ở việc họ thường chậm phản ứng với những tin tức được đưa ra. Lý do là vì họ đã gắn suy nghĩ của mình vào một tình huống nào đó trong một giai đoạn dài trước đó. Chẳng hạn, khi đã biết nền kinh tế đang rơi vào trạng thái suy thoái, họ có thể cho rằng đó chỉ là dấu hiệu tạm thời, chứ không phân tích đến tình huống đó có thể là tính chu kỳ của nền kinh tế.

  • Quá tự tin

Các nghiên cứu của Shiller (2000) đã chỉ ra rằng các nhà đầu tự thường tỏ ra quá tự tin trong các quyết định của mình. Bằng chứng là họ thường ít đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình, thay vào đó họ sẽ nắm giữ cổ phiếu của những công ty mà mình quen thuộc, có được thông tin nội bộ, hoặc họ quá tin vào hiểu biết của mình về công ty đó.

  • Tính toán bất hợp lý

Thường nhà đầu tư có xu hướng tách riêng các quyết định đầu tư ra mà đúng ra chúng nên được kết hợp lại với nhau vào một tài khoản ảo trong trí tưởng tượng của họ (mental account) và tối đa hóa lợi ích từng tài khoản. Do đó, đôi khi các quyết định đưa ra nhìn tưởng là hợp lí nhưng thực ra là sai lầm.

b.Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống:

Nếu hành vi không hợp ỉý chỉ mang tính đơn lẻ thi gần như khống có ảnh hưởng gì đến thị trường. Chỉ khi hành vi này mang tính hệ thống, hay nói cách kháo khi cỏ nhiều nhả đầu tư cùng hành động như vậy thì sẽ xuất hiện việc định giá sai chứng khoán.

Theo lý thuyết tài chính hành vi, con người thường có những sai lầm hệ thống, còn gọi là “hiệu ứng bầy đàn”; do vậy, việc định giá sai vẫn thường xảy ra và có thể diễn ra trong thời gian dài.

         c.Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường

Lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng giá cổ phiếu luôn phản ánh tức thời đối với mọi thông tin mới trên thị trường. Nếu tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, hành vi hợp lý của nhà đầu tư sẽ đưa thị trường trở về trạng thái cân bằng. Tuy nhiên, trên thực tế, cơ hội kinh doanh chênh lệch giá vẫn tồn tại.

2.Một số lý thuyết tài chính hành vi

a. Lỷ thuyết viễn cảnh

Lý thuyết này khẳng định sự biến động giá cả trên thị trường là do con người có xu hướng chỉ tập trung vào các bằng chứng ở hiện tại mà quên đi sự đánh giá trong tương lai. Lý thuyết này cũng cho rằng mọi nhà đầu tư trên thị trường không tính toán xác suất khả năng xảy ra trong tương lai, với giả định rằng những gì khó có thể xảy ra nhất trong tương lai sẽ không xảy ra, và ngược lại. Các nhà đầu tư trên thị trường có xu hướng đánh giá và đưa ra các quyết định một cách riêng biệt, chứ không đặt các quyết định đầu tư chứng khoán trong một tổng thể với nhiều mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.

b.Lý thuyết tâm lý đám đông:

Lý thuyết tâm lý đám đông giải thích rằng con người thường hay bắt chước hành động của một số đông nào đó. Thứ nhất, có thể do áp lực của xã hội về luật lệ khiến một số cá nhân phải làm theo. Vì họ là một cá thể của xã hội đó và mong muốn tự nhiên là được xã hội chấp nhận. Do vậy, làm theo đám đông là cách tốt nhất để trở thành một thành viên của xã hội đó. Thứ hai, người ta luôn nghĩ rằng đám đông không bao giờ sai. Ngay cả khi người ta được thuyết phục là ý tưởng hoặc hành động đó là bất hợp lý, không đúng, người ta vẫn hành động theo đám đông vì tin rằng có thể họ biết điều gì đó mà mình không biết. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp các cá nhân nào đó ít kinh nghiệm.

Những nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng tâm lý bầy đàn ảnh hưởng đến cả những chuyên gia về tài chính. Mục tiêu cuối cùng của một nhà quản lý danh mục đầu tư là tối đa hóa lợi ích của khách hàng. Nhưng không phải lúc nào họ cũng có thể thực hiện chiến lược quản lý danh mục đầu tư đến cùng.

c.Lý thuyết tâm lý định hướng:

Trong lĩnh vực đầu tư, tâm lý định hướng cho rằng nhà đầu tư thường tìm kiếm những thông tin để hỗ trợ cho suy nghĩ ban đầu của họ về một cổ phiếu nào đó thay vì tìm kiếm những thông tin trái ngược nhau về cổ phiếu đó. Kết quả là họ thường đưa ra quyết định sai lầm chỉ vì căn cứ vào thông tin một chiều để định giá cổ phiếu đó.

Tâm lý định hướng cũng thường xảy ra khi một cá nhân dựa trên xu hướng biến động trong quá khứ của một tài sản nào đấy và tin là nó sẽ lặp lại như vậy trong tương lai. Tuy nhiên, thực tế xu hướng trong tương lai là điều không thể dự đoán chắc chắn được.

d. Lỷ thuyết tâm lý suy diễn

Lý thuyết này cho rằng cá nhân thường tin là xác suất xảy ra một sự kiện nào đó tiếp theo một chuỗi các sự kiện trước đó là rất thấp. Điều này là không đúng vì nhiều nghiên cứu thực nghiệm minh chứng rằng xác suất xảy ra của một sự kiện trong quá khứ không ảnh hưởng đến xác suất xảy ra ở lần tiếp theo.

e. Các mỏ neo tâm lý

Mỏ neo tâm lý là hiện tượng các quyết định tài chính, đầu tư theo thuyết hành vi tài chính được xác lập gắn trên cơ sở một số yếu tố tâm lý nào đó. Những yếu tố tâm lý đó xuất phát từ sự thông minh của còn nguời, sự thông minh đó bao gồm cả ưu điểm và không tránh khỏi những khuyết điểm.

Có hai dạng mỏ neo tâm lý cơ bản:

-Neo số lượng: đưa ra chỉ báo về các mức độ thích hợp của thị trường trong việc xác định thị trường đang định giá chứng khoán cao hay thấp và đưa ra đánh giá về thời điểm mua chứng khoán có thích hợp hay không. Nhả đầu tư căn cứ trên mức giá ở thời điểm gần nhất trong quả khứ mà họ nhớ được và chỉ số thị trường thông dụng nhất hiện hành như chỉ số giá chứng khoán, hệ số giá trên thu nhập (PER),... để đưa ra quyết định cho hành vi đầu tư của mình.

     - Neo đạo đức: là “mỏ neo tâm lý” đưa ra lời khuyên cho nhà đầu tư nhằm xác định nên sử dụng của cải hiện có để đầu tư vào cổ phiếu hay sử dụng vào mục đích khác. Các nhà đầu tư sử dụng mỏ neo này thường không biết rõ chứng khoán có được định giá chính xác hay không, cũng không biết chính xác giá hiện hành là thấp hay cao. Khi giá chứng khoán tăng cao, họ có xu hướng bán ra để chắc chắn thu được một phần của cải nhất định.

Nguyễn Thị Minh Hà.